CHẬM NÓI

I/ Những nguyên nhân khiến trẻ chậm nói

Trẻ chậm nói được chia thành hai loại, chậm nói đơn thuần và chậm nói tự kỷ. Hiện tượng chậm nói đơn thuần ở trẻ em là do bị rối loạn trong việc phát triển ngôn ngữ. Còn trẻ tự kỷ thường bị chậm nói, không hiểu ngôn ngữ, sống với một thế giới riêng, tách biệt với thế giới xung quanh. Trẻ chậm nói có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau.

1/Những nguyên nhân chậm nói ở trẻ do nội tại cơ thể :

  • Mất thính lực được coi là nguyên nhân đầu tiên.
  • Trẻ bị trục trặc trong vòm miệng, như với lưỡi hoặc hàm ếch, dây hãm ngắn cũng có thể hạn chế cử động của lưỡi khiến trẻ khó nói…
  • Nguyên nhân có thể do di truyền, chấn thương sọ não, viêm não, động kinh, động kinh, dị tật cơ quan phát âm, viêm thanh quản, viêm tai giữa.
  • Những trẻ chậm phát triển tâm thần đều chậm nói.
  • Bên cạnh đó, trong quá trình thụ thai, người cha uống rượu nhiều cũng có thể làm tinh trùng suy yếu, và ảnh hưởng lên phần não điều khiển ngôn ngữ khi bào thai phát triển.

2/Các yếu tố tác động đến trẻ khiến cho quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ chậm lại:

  • Trẻ ngồi xem ti vi quá nhiều, bố mẹ ít nói chuyện với con, khiến cho trẻ chỉ nhận thông tin một chiều, không có sự phản hồi lại những thông tin nhận được từ ti vi, như vậy trong một thời gian dài sẽ làm trẻ chậm nói.
  • Trẻ suy dinh dưỡng, thiếu tình thương của bố mẹ, trẻ bị ngược đãi.
  • Bố mẹ phó mặc con cho người giúp việc, vì lo làm việc nên không có thời gian trò chuyện với trẻ, trẻ không có cơ hội được nói.
  • Trẻ bị tách ra khỏi môi trường xung quanh tạo cơ hội bắt chước.

II/ Những biểu hiện bất thường về phát triển ngôn ngữ ở trẻ cần được khám sớm:

  • Không đáp ứng với giọng nói hay những âm thanh to khi bé 6-8 tuần tuổi.
  • Không cười với giọng nói của cha mẹ lúc 2 tháng.
  • Không quan tâm tới người và vật xung quanh lúc 3 tháng.
  • Không quay đầu theo hướng âm thanh lúc 4 tháng.
  • Không cười tự phát lúc 6 tháng
  • Không bập bẹ lúc 8 tháng
  • Bé sơ sinh không đáp ứng với âm thanh hoặc không phát ra âm thanh nào thì đặc biệt cần chú ý. Từ 12 đến 24 tháng, những trẻ có dấu hiệu sau cần chú ý
  • Không sử dụng điệu bộ, cử chí, chẳng hạn chỉ hoặc vẫy tay bye-bye khi được 12 tháng tuổi
  • Thích dùng cử chỉ hơn là lời nói để giao tiếp khi đến 18 tháng tuổi
  • Không bắt chước được âm thanh khi 18 tháng
  • Không nói được từ đơn lúc 2 tuổi
  • Không nói được một câu đơn giản khi bé 3 tuổi.
  • Không giao tiếp như người lớn khi bé 5-6 tuổi.

III. Khi nào cần can thiệp?

       Trước tiên cha mẹ, người thân cần chú ý chăm sóc, quan tâm phát triển kỹ năng ngôn ngữ ở trẻ phù hợp với độ tuổi, và cần can thiệp sớm khi thấy trẻ có dấu hiệu bất thường về phát triển ngôn ngữ.

       Nếu thấy trẻ có một trong những biểu hiện trên, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để các bác sĩ kiểm tra. Tùy theo mức độ chậm nói và độ tuổi của trẻ các bác sĩ sẽ có nhiều hình thức can thiệp khác nhau như tư vấn, hướng dẫn cha mẹ huấn luyện ngôn ngữ cha mẹ tại gia đình, hoặc cần kết hợp chuyên gia ngôn ngữ, tâm lý và bác sĩ để can thiệp thúc đẩy ngôn ngữ ở trẻ.

       Đối với trẻ chậm nói do nguyên nhân thực thể, đa phần là do trẻ có vấn đề về thính lực. Các bác sĩ phải điều trị về thính lực cho trẻ. Đối với trẻ bị điếc nhẹ và điếc trung bình thì việc điều trị trước 5 tuổi rất có hiệu quả. Trong những trường hợp điếc do viêm tai, thủng màng nhĩ, trẻ sẽ được điều trị bằng phẫu thuật, vá màng nhĩ để nâng sức nghe. Với những trường hợp không nghe lại được thì phải can thiệp bằng cách đeo máy nghe.

IV. Phương pháp và thời gian điều trị :

       Can thiệp đặc biệt là một biện pháp hiệu quả nhất trong việc điều trị chứng chậm nói ở trẻ em hiện nay. Người ta cũng đang tiến hành tìm hiểu và áp dụng phương pháp PECS - hệ thống các phương tiện giao tiếp thông qua hình ảnh - để giúp những đối tượng gặp khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp.

       Các bậc phụ huynh góp phần rất lớn trong việc can thiệp với trẻ chậm nói. Nhiều phụ huynh vẫn chưa hợp tác tốt với chuyên viên can thiệp trong việc điều trị ngôn ngữ cho trẻ, không quan tâm và phó mặc trẻ cho chuyên viên can thiệp. Cũng có phụ huynh quá bao bọc trẻ, không để trẻ tiếp xúc với môi trường xung quanh và tỏ ra e dè khi để trẻ ra môi trường bên ngoài mà không có mình. Đặc biệt, không ít phụ huynh tạo ra áp lực cho chuyên viên can thiệp, cho trẻ và cho bản thân khi đặt ra yêu cầu là trong một thời gian ngắn, trẻ có thể học phát âm và nói được như trẻ bình thường.

       Can thiệp với trẻ chậm nói đòi hỏi một thời gian lâu dài, kiên trì và có sự hợp tác tốt giữa giáo viên và phụ huynh. Không phép mầu nào có thể xảy ra nếu không có sự nỗ lực không mệt mỏi của cả chuyên viên can thiệp lẫn các bậc phụ huynh.

V. Chăm sóc phát triển ngôn ngữ ở trẻ tập nói và trẻ chậm nói:

      - Cha mẹ cần quan tâm chăm sóc thúc đẩy kỹ năng ngôn ngữ ở trẻ tùy theo độ tuổi. Trẻ có thể nghe và hiểu từ rất sớm, trước khi trẻ có thể tự nói.

       -  Do đó cha mẹ cần khuyến khích trẻ tập nói.

      - Cần thường xuyên nói chuyện với trẻ, đọc sách cho trẻ nghe, khuyến khích trẻ tập trung vào bạn, vào đồ vật nào đó mà bạn muốn nói đến. Nên nói đến những vật có trước mặt, hay những điều đang xảy ra. Không ép trẻ phải nói và nhớ đưa ra lời khen khi trẻ tập nói. Chú ý lắng nghe, cho con bạn có thời gian để thực hiện những lời trẻ sắp nói, cũng như thường xuyên đưa ra lời động viên như: “Con nói giỏi lắm”, giúp trẻ mạnh dạn tập nói.

      - Nên dạy cho trẻ những từ đơn giản, dễ hiểu. Tốt nhất là dạy trẻ nói dựa theo những tình huống xảy ra hàng ngày, tạo nhiều tình huống khác nhau khi nói về một từ nào đó. Tập cho con bạn biết nghe các âm thanh khác nhau hay tập cho con giao tiếp qua những hình ảnh hay điệu bộ cũng là cách giúp cho trẻ tập nói tốt. Không nên cho trẻ xem tivi quá nhiều, cần kiểm soát thời gian và chương trình tivi. Cha mẹ nên cùng xem với trẻ các chương trình như phim hoạt hình, ca nhạc và bình luận về các tình tiết, nhân vật, hội thoại trong phim để giúp trẻ xây dựng phản xạ ngôn ngữ.

       - Hạn chế đến mức thấp nhất cho trẻ xem tivi và kiểm soát thời gian cũng như chương trình mà trẻ tiếp xúc với các thiết bị điện tử như máy vi tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh…